Bệnh truyền nhiễm

Ô nhiễm môi trường gây ra những bệnh gì

06/02/2020

Theo báo cáo quốc gia về sức khỏe môi trường năm 2007, những bệnh này chiếm tỉ lệ khác nhau ở những nơi có nguồn ô nhiễm môi trường khác nhau. Chẳng hạn, tại khu vực Thượng Đình (Hà Nội) tỉ lệ mắc bệnh viêm phế quản mãn tính là 6,4%, ở nơi khác chỉ 2,8%; hô hấp trên 36,1%, ở nơi khác là 13,1%; triệu chứng về mắt: 28,5%, nơi khác: 16,1%; rối loạn chức năng thông khí phổi: 29,4% so với nơi khác là 22,8%. Ô nhiễm môi trường là nguyên nhân gây ra những bệnh tật mới trong những năm gần đây Số liệu thống kê từ Bộ Y tế cho thấy trong những năm gần đây, các bệnh nhân về đường hô hấp có tỷ lệ mắc cao nhất trên toàn quốc, nguyên nhân chủ yếu là do ô nhiễm không khí gây ra. Kết quả thống kê cứ 100.000 dân có đến 4,1% số người mắc các bệnh về phổi; 3,8% viêm họng và viêm amidan cấp; 3,1% viêm phế quản và viêm tiểu phế quản. Người lao động là đối tượng bị ảnh hưởng trực tiếp khi môi trường không khí của khu vực sản xuất bị ô nhiễm. Trong đó, người lao động trong các cơ sở sản xuất công nghiệp thường bị mắc các bệnh hô hấp, tim mạch, tiêu hóa, mắt, bệnh ngoài da và một số hiện tượng ngộ độc CO, SO2, chì... Trong khi đó trẻ dưới 5 tuổi là đối tượng bị ảnh hưởng nặng nề nhất, bởi cơ thể trẻ đang trong giai đoạn tăng trưởng và phát triển, đồng thời ở lứa tuổi này trẻ hoàn toàn bị thụ động trước các ảnh hưởng có hại của môi trường do người lớn gây ra . Trước đây rất hiếm trường hợp trẻ 2 tuổi bị hen phế quản. Nay những trường hợp này ngày càng nhiều hơn, trầm trọng hơn. Hay bệnh viêm mũi thường chỉ có triệu chứng sổ mũi, nay chuyển xuống viêm họng, viêm thanh quản. Mật độ dân cư đông, ô nhiễm môi trường được cho là nguyên nhân làm trầm trọng và gia tăng bệnh tật như hiện nay. Một số bệnh có mối liên quan chặt với ô nhiễm không khí đến khám, chữa trị tại Bệnh viện Nhi đồng 1 (TP.HCM) ngày càng gia tăng như suyễn (từ 3.074 trường hợp vào năm 1996 tăng lên 11.491 trường hợp vào năm 2005); nhiễm khuẩn hô hấp dưới (từ 2.727 trường hợp vào năm 1996 tăng lên 3.772 trường hợp vào năm 2005); viêm tai giữa (từ 441 trường hợp năm 1996 vào lên 1.999 trường hợp vào năm 2005)... Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới cho biết mỗi năm có đến 2 triệu trẻ em tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp, 60% trong số đó do ô nhiễm không khí. Tổ chức này cũng lượng định có khoảng 3 đến 5 phần trăm trẻ em trên toàn thế giới bị sinh ra ra với khuyết tật bẩm sinh do ô nhiễm môi trường .

Những hiểu biết cơ bản về bệnh Giang mai – Syphilis

06/02/2020

Những hiểu biết cơ bản về Giang mai 1. Dịch tễ học Bệnh giang mai là bệnh lây truyền qua đường tình dục (STIs) do xoắn khuẩn Treponema pallidum gây nên. Từ cuối thế kỷ 19, Y học đã biết đến sự tiến triển tự nhiên của bệnh Giang mai ở 1400 bệnh nhân không được điều trị do thời điểm đó các bác sĩ cho rằng các biện pháp điều trị rất độc hại và ít có lợi. Đến năm 1905, hai nhà khoa học Hoffman và Schaudinn tìm ra xoắn khuẩn gây bệnh Giang mai. Những năm 1917 – 1941, đã có những nghiên cứu đầy đủ về dịch tễ học, sinh bệnh học và các biểu hiện lâm sàng của bệnh Giang mai. Theo ước tính của tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có trên 35 triệu trường hợp mới mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STI) trong đó giang mai chiếm 2%). Tại Việt Nam bệnh Giang mai cũng có tỷ lệ mắc tương tự. 2. Đường lây - Xoắn khuẩn lây truyền qua giao hợp đường âm đạo, hậu môn hoặc đường miệng. - Xoắn khuẩn giang mai có thể sống ở môi trường ngoài vài giờ do đó bệnh có thể lây gián tiếp qua vật dụng khi tiếp xúc với các vết xước trên da, niêm mạc. - Bơm kim tiêm không vô khuẩn sẽ lây truyền qua đường máu. - Phụ nữ mang thai mắc giang mai sau tháng thứ 3 của thai kỳ có thể lây cho con và gây bệnh giang mai bẩm sinh. 3. Biểu hiện lâm sàng Giang mai Giang mai có biểu hiện lâm sàng rất đa dạng, thậm chí có những giai đoạn mà bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng lâm sàng. Tuy nhiên khi có những dấu hiệu sau bệnh nhân nên tới khám tại các phòng khám về bệnh lây truyền qua đường tình dục: + Săng: là những tổn thương đơn độc, xuất hiện ngay tại nơi xoắn khuẩn xâm nhập vào cơ thể (nên thường ở cơ quan sinh dục, hậu môn, miệng,..). Là vết trợt nông, hình tròn hoặc bầu dục, bề mặt phẳng, màu đỏ tươi. Nền của săng giang mai thường rắn, cứng như tờ bìa, không ngứa, không đau, không mủ và nếu không điều trị gì thì cũng tự khỏi. Thường xuất hiện khoảng 3-4 tuần sau lây nhiễm. + Hạch: Thường xuất hiện hạch viêm phản ứng (thường hạch bẹn). Hạch chùm và thường có 1 hạch to hơn – hạch chúa. Tính chất: rắn, không đau, không hoá mủ, không dính, dễ di động. Thường tự khỏi sau 6-8 tuần làm bệnh nhân tưởng khỏi bệnh + Đào ban: Là những vết hồng tươi như cánh đào, bằng phẳng với mặt da, hình bầu dục, số lượng có thể ít hoặc nhiều. Mềm, không thâm nhiễm, không ngứa, không đau Thường khu trú ở mạng sườn, mặt, lòng bàn tay/chân, mất đi để lại vết nhiễm sắc tố loang lổ. + Mảng niêm mạc: vết trợt nông của niêm mạc, không có bờ, bề mặt ướt, đôi khi nổi cao sần sùi, đóng vảy tiết. + Viêm hạch lan toả nhiều nhóm hạch. + Nhức đầu: Thường xảy ra về ban đêm + Rụng tóc: Đào ban vùng đầu hay gây rụng tóc, rụng đều làm tóc thưa dần + Có thể gặp sẩn giang mai, củ giang mai, gôm giang mai hay những tổn thương cơ quan bộ phận khác do giang mai: viêm mống mắt, viêm gan, viêm họng khàn tiếng, viêm màng xương (đau nhức cơ đùi về đêm), viêm thận hay các biểu hiện giang mai thần kinh (đau, nhức đầu, tê liệt do viêm tuỷ sống), phình động mạch, hở động mạch chủ,... 4. Chẩn đoán Khai thác tiền sử; Lâm sàng: chẩn đoán bệnh và giai đoạn của bệnh Xét nghiệm: Soi tìm xoắn khuẩn ở các tổn thương Các phản ứng huyết thanh: Phản ứng không đặc hiệu (RPR, VDRL); các phản ứng đặc hiệu (FTA, TPHA, FTAabs) ​​ 5. Điều trị - Điều trị sớm và đủ liều để khỏi bệnh, không lây lan, phòng tái phát và di chứng. - Điều trị đồng thời bạn tình. - Penicillin là thuốc lựa chọn hàng đầu. Nguồn: https://phongkhambienviet.com/benh-giang-mai-syphilis.html

Những điều bạn cần biết về Bệnh lây qua đường tình dục

06/02/2020

Việc quan hệ tình dục không lành mạnh có thể là nguyên nhân gây ra một số bệnh lý nguy hiểm. Trang bị đầy đủ thông tin về bệnh lây qua đường tình dục sẽ giúp ích cho việc phòng ngừa, điều trị hiệu quả. Vậy các bệnh lây qua đường tình dục là những bệnh nào? Cùng tìm hiểu qua bài viết sau. Bệnh lây qua đường tình dục là gì? Bệnh lây qua đường tình dục có tên tiếng anh là Sexually transmitted diseases – STDs. Bệnh lây qua đường tình dục hình thành do sự lây lan của các mầm bệnh như vi khuẩn, nấm, virus, ký sinh trùng từ người này sang người khác qua đường han hệ tình dục không an toàn. Các hành vi tình dục không an toàn bao gồm: Giao hợp âm đạo, quan hệ bằng hậu môn hoặc bằng miệng. Hiện nay, theo thống kê cho thấy, trên thế giới đã phát hiện khoảng 20 bệnh lây qua đường tình dục. Mỗi bệnh sẽ có biểu hiện và mức độ ảnh hưởng về sức khỏe khác nhau. Trong đó có bệnh HIV/AIDS đã cướp đi tính mạng của hàng trăm triệu người trên toàn thế giới. Và cho đến nay, HIV/AIDS được ví như “căn bệnh thế kỷ” và được xếp vào bệnh lây qua đường tình dục chưa có phương pháp điều trị dứt điểm. Phòng khám đa khoa Biển Việt chuyên khám sàng lọc các bệnh xã hội như: HVI/AIDS, bệnh Lậu, bệnh Giang mai, bệnh Hạ cam mềm, bệnh sùi mào gà, ... Địa chỉ: Số Nhà 18, Nhà Vườn 1, Tổng Cục 5, Bộ Công An, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Điện thoại tư vấn 24/24h: 0812217575/ 0912075641 Địa chỉ xét nghiệm phơi nhiễm HIV nhanh chóng, chính xác, bảo mật tại Hà Nội - Hãy gọi ngay cho chúng tôi Hotline: 0812217575 Triệu chứng bệnh lây truyền quy tình dục ở nam giới và nữ giới Khi nam giới và nữ giới có gặp phải các triệu chứng sau nên đến các cơ y tế uy tín để đăng ký khám ngay nhằm phát hiện bệnh sớm để có hướng điều trị hiệu quả, tránh biến chứng: 1.1 Triệu chứng bệnh lây truyền quy tình dục ở nam giới Đau và khó chịu trong lúc quan hệ tình dục hoặc đi tiểu; Có vết lở loét, nổi u, hoặc có hiện tượng phát ban trên hoặc xung quanh dương vật, tinh hoàn, hậu môn, mông, đùi, miệng; Tiết dịch bất thường hoặc chảy máu từ dương vật; Tinh hoàn đau hoặc sưng. 1.2 Triệu chứng bệnh lây truyền quy tình dục ở nữ giới Đau hoặc khó chịu trong quan hệ tình dục hoặc đi tiểu Lở loét, nổi u, hoặc phát ban trên hoặc xung quanh âm đạo, hậu môn, mông, đùi, miệng Tiết dịch bất thường hoặc chảy máu từ âm đạo Ngứa trong hoặc xung quanh âm đạo. Một số bệnh phổ biến lây qua đường tình dục 1. Bệnh HIV/AIDS HIV là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Loại virus này gây tổn thương hệ thống miễn dịch, khiến cơ thể người không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn tới tử vong. AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh: nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các căn bệnh liên quan tới rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong. Thời gian chuyển từ HIV sang AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người. Theo nhiều nghiên cứu, thời gian trung bình là 5 năm. Virus HIV dễ lây truyền qua đường tình dục. Người mang virus khi quan hệ tình dục sẽ lây truyền HIV cho bạn tình. Tỷ lệ lây nhiễm HIV cho mỗi lần quan hệ tình dục không bảo vệ ước tính là 0,1 – 1%. Tỷ lệ này gia tăng theo tần suất quan hệ. Trong khi đó, quan hệ tình dục với người bị HIV có bảo vệ bằng bao cao su sẽ có độ an toàn lên tới 90 – 95% nếu thực hành đúng cách. Virus HIV lây truyền qua đường tình dục do: Tình dục đường âm đạo. Tình dục đường hậu môn. Tình dục đường miệng: khả năng lây truyền bệnh thấp hơn. Tuy nhiên, nếu trong miệng có vết trầy xước hoặc chảy máu răng mà không biết thì vẫn có khả năng lây nhiễm HIV. ​ 2. Bệnh Giang mai Bệnh giang mai là bệnh xã hội nguy hiểm, bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và không loại trừ bất cứ đối tượng nào. Tuy nhiên do cơ địa chị em thường yếu hơn nam giới nên dễ dàng gây bệnh hơn, các dấu hiệu cũng khó nhận biết hơn. Bệnh Giang mai có tên khoa học là Syphilis, do xoắn khuẩn Giang mai (Treponema pallidum) gây ra. Một số triệu chứng nhận biết bệnh Giang mai: Giai đoạn 1: Xuất hiện các vết loét ở bộ phận sinh dục. Một số trường hợp người mắc bệnh còn nổi hạch bẹn. Triệu chứng ở giai đoạn này không gây đau đớn nên người bệnh khác chủ quan. Giai đoạn 2: Thân mình, lòng bàn tay và lòng bàn chân nổi ban đào. U sùi nổi ở hậu môn. Hạch bẹn bắt đầu nổi khắp người nhưng vẫn không gây đau. Giai đoạn 3: Giang mai lây lan và tổn thương nội tạng như xương, tim, da, thần kinh,... Theo các chuyên gia tại phòng khám đa khoa Biển Việt thì xoắn khuẩn giang mai sau khi xâm nhập vào cơ thể nữ giới sẽ không gây bất kì biểu hiện nào. Vì đây được xem là giai đoạn ủ bệnh, trong thời gian này sẽ tạo điều cho xoắn khuẩn giang mai lây truyền cho mọi người xung quanh, vô cùng nguy hiểm. Bệnh giang mai nếu không được điều trị kịp thời và triệt để, ở giai đoạn cuối của bệnh có thể dẫn đến các biến chứng: Mất thị lực, mất thích giác, mất trí nhớ, bệnh tâm thân, nhiễm trùng não hoặc tủy sống, bệnh tim, thậm chí là tử vong. 3. Bệnh sùi mào gà Bệnh sùi mào gà là bệnh xã hội phổ biến nhất hiện nay. Nguyên nhân, triệu chứng, cách chữa, hình ảnh sùi mào gà ở nam giới và nữ giới được các bạn trẻ quan tâm tìm hiểu. Mụn cóc sinh dục gây ảnh hưởng trầm trọng đến tâm sinh lý, đời sống sinh hoạt tình dục và chất lượng sống của bệnh nhân. Bệnh sùi mào gà (Thuật ngữ y khoa phương Tây: Mụn cóc sinh dục) do chủng virus HPV gây ra. Bệnh đặc trưng bởi sự xuất hiện của mụn sùi (mụn cóc) chủ yếu ở bộ phận sinh dục và hậu môn của bệnh nhân. Ở một số người, mụn cóc sinh dục có liên quan chặt chẽ đến ung thư, sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng bệnh nhân nếu không điều trị kịp thời. Biểu hiện, triệu chứng của bệnh sùi mào gà ở nam giới và nữ giới Những biểu hiện và triệu chứng sùi mào gà qua từng giai đoạn: Giai đoạn đầu, bộ phận sinh dục xuất hiện những nốt sùi nhỏ (kích thước khoảng 1-3mm) trùng màu da hoặc màu xám, khó nhìn thấy bằng mắt thường. Người bệnh sờ tay vào có cảm giác ráp. Giai đoạn nặng hơn, các mụn sùi phát triển dày đặc và nằm sát nhau thành khối lớn có thể lên đến vài centimet có hình như mào gà hoặc bông súp lơ. Khi chạm vào có thể chảy mủ. Vùng da nhiễm bệnh thường có cảm giác ngứa khó chịu. Khi quan hệ tình dục thường có cảm giác đau, chảy máu ở bộ phận sinh dục. Các nốt sùi mào gà thường xuất hiện ở đâu? Nốt sùi mào gà ở nữ: các khối u nhú phát triển ở âm hộ, thành âm đạo, khu vực xung quanh bộ phận sinh dục, hậu môn ống hậu môn và cổ tử cung. Mụn sùi mào gà ở nam: các nốt sùi mào gà phát triển ở đầu hoặc thân dương vật, tinh hoàn hoặc hậu môn. Một số trường hợp các mụn sùi lây lan ra phần háng và đùi. Nốt sùi mào gà ở miệng: nốt sùi xuất hiện ở trong khoang miệng, lưỡi, môi. ​ 4. Bệnh Lậu Bệnh lậu là một bệnh lây qua đường tình dục. Bệnh gây ra bởi một loại vi khuẩn có tên khoa học là Neisseria gonorrhoeae hay gonococcus. Đây là loại vi khuẩn thường xuất hiện ở âm đạo, cổ tử cung, mắt, miệng, hậu môn và nhất là trong đường niệu đạo của nam giới. Bệnh lậu có thể xảy ra ở mọi đối tượng, lứa tuổi nhưng phổ biến nhất là ở nam nữ trong độ tuổi sinh sản. Triệu chứng nhận biết bệnh lậu Triệu chứng nhận biết bệnh lậu ở nam giới Khi mắc bệnh lậu, nam giới thường có các biểu hiện như: tiểu đau, tiểu buốt, tiểu nhiều lần, nước tiểu lẫn máu hoặc mủ...Trường hợp nặng hơn, người bệnh có thể thấy xuất hiện những giọt mủ như màu nhựa chuối ở lỗ niệu đạo, nhất là vào sáng sớm. Ngoài ra, bệnh lậu còn khiến cơ thể thường xuyên mệt mỏi, kiệt sức sốt nhẹ, nổi hạch bẹn, ăn uống không ngon miệng... Triệu chứng nhận biết bệnh lậu ở nữ giới Khác với nam giới, nữ giới mắc bệnh lậu hầu như không có triệu chứng nào cụ thể nên thường bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với những bệnh phụ khoa thông thường. Chỉ đến khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn nặng mới xuất hiện các triệu chứng như: tiểu đau buốt, có mủ màu xanh, vàng chảy ra từ niệu đạo, cổ tử cung, vùng kín có mùi hôi tanh bất thường... Bệnh lậu ở nữ giới nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể gây những biến chứng nguy hiểm như: viêm ống dẫn trứng, chửa ngoài dạ con... Người mẹ có thể truyền bệnh lậu cho trẻ sơ sinh khi sinh con. Khi điều đó xảy ra, bệnh lậu có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng ở em bé. Đó là lý do tại sao nhiều bác sĩ khuyến khích phụ nữ mang thai làm xét nghiệm và điều trị STD nếu có. Bệnh lậu thường có thể được điều trị bằng kháng sinh. Nếu bệnh lậu không được phát hiện và chữa trị sớm sẽ phát triển nhanh chóng gây những biến chứng nguy hiểm sau: Nhiễm trùng niệu đạo, tuyến tiền liệt hoặc tinh hoàn Bệnh viêm vùng chậu Khó thụ thai. Cách phòng ngừa các bệnh lây qua đường tình dục 1/ Tránh quan hệ tình dục sớm Hoạt động tình dục ở độ tuổi còn trẻ là một trong những nguyên nhân phổ biến bị nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục. Quan hệ tình dục càng sớm, nguy cơ mắc bệnh càng cao. 2/ Tránh quan hệ tình dục với nhiều người, chung thủy một vợ một chồng. Nguy cơ mắc các bệnh STDs tỷ lệ thuận với số lượng bạn tình mà bạn đang quan hệ tình dục. Cách tốt nhất để ngăn ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục là quan hệ tình dục chung thuỷ một vợ một chồng, một đối tác. 3/ Vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau khi quan hệ Việc vệ sinh bộ phận sinh dục trước và sau khi quan hệ đều rất cần thiết, giúp giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh lây nhiễm qua đường tình dục. Hầu hết chỉ có chị em mới vệ sinh “vùng kín” sau khi sex. Còn cánh mày râu vẫn thường phớt lờ chuyện này. Lưu ý, không nên dùng chung khăn tắm và đồ lót để tránh lây nhiễm chéo. 4/ Sử dụng bao cao su, tấm bảo vệ trong quan hệ tình dục Bao cao su thường có hiệu quả trong việc ngăn ngừa bệnh lây qua đường tình dục lây lan qua dịch lỏng, chẳng hạn như tinh dịch hoặc máu. Nó cũng có thể bảo vệ hoàn toàn chống lại bệnh lây lan qua tiếp xúc da. Bên cạnh đó, sử dụng bảo cao sư trong quan hệ tình dục để tranh việc mang thai ngoài ý muốn. Tấm bảo vệ miệng cũng có thể có tác dụng bảo vệ trong quan hệ tình dục bằng miệng. 5/ Thường xuyên sàng lọc các bệnh xã hội Sàng lọc các bệnh xã hội thường xuyên là một ý tưởng tốt cho bất cứ ai có hoạt động tình dục. Nó đặc biệt quan trọng đối với những người có bạn tình mới hoặc nhiều bạn tình. Chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp ngăn chặn sự lây lan của nhiễm trùng. 6/ Tiêm phòng Hiện nay có rất nhiều loại vắc-xin phòng ngừa một số bệnh lây qua quan hệ tình dục. Vì vậy, việc này cần được thực hiện sớm, thậm chí trước khi có một mối quan hệ tình dục. Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội tại PKĐK Biển Việt Ý nghĩa của Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội giúp khách hàng: Khám sàng lọc các bệnh xã hội nhằm phát hiện bệnh sớm để có hướng điều trị hiệu quả, tránh biến chứng Đối tượng sử dụng Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội dành cho mọi lứa tuổi, dành cho cả nam và nữ Khách hàng có yếu tố nguy cơ như quan hệ tình dục không an toàn, xăm mình hoặc tiêm chích ma tuý, là người bệnh phải truyền máu hoặc các sản phẩm của máu. Khách hàng làm một số nghề nghiệp có yếu tố nguy cơ như: nhân viên y tế, thợ cắt tóc, thợ xăm hình,... Khách hàng có thể chưa có hoặc có những triệu chứng sau: Đau khi đi tiểu, tiểu gấp, tiểu dắt hoặc đi tiểu nhiều hơn bình thường, tiểu ra máu, ra mủ. Khí hư bất thường về mùi, màu sắc hay số lượng Chảy máu bất thường giữa 2 chu kì kinh nguyệt, chảy máu nhiều, kéo dài Ngứa âm đạo Phát ban, nổi mụn và tổn thương da Đau vùng xương chậu Chi tiết dịch vụ Gói khám sàng lọc các bệnh xã hội Khi đăng ký Gói khám sàng lọc bệnh xã hội, khách hàng sẽ được: Khám chuyên khoa Thực hiện các xét nghiệm như: xét nghiệm HIV Ab test nhanh, xét nghiệm Chlamydia test nhanh, xét nghiệm Treponema pallidium test nhanh, xét nghiệm Treponema pallidum TPHA định tính và định lượng, xét nghiệm vi khuẩn nhuộm soi và xét nghiệm vi nấm nhuộm soi Vì sao nên chọn PKĐK Biển Việt để khám sàng lọc bệnh xã hội Đội ngũ y - bác sỹ là các chuyên gia đầu ngành, trình độ chuyên môn cao, tận tụy và hết lòng vì lợi ích của bệnh nhân Dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp Hệ thống trang thiết bị hiện đại, hỗ trợ chẩn đoán và điều trị hiệu quả Không gian khám chữa bệnh hiện đại, văn minh, sang trọng và tiệt trùng tối đa Đảm bảo trọn vẹn sự an toàn và riêng tư cho khách hàng. Mô hình quản lý, chia sẻ và kết nối dữ liệu thông tin trực tuyến hiện đại, hiệu quả tối ưu. Địa chỉ: Số Nhà 18, Nhà Vườn 1, Tổng Cục 5, Bộ Công An, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Điện thoại tư vấn 24/24h: 0812217575/ 0912075641 (Theo: https://phongkhambienviet.com/benh-lay-qua-duong-tinh-duc-nhung-dieu-ban-can-biet.html )

Những bệnh mùa hè mà trẻ em thường gặp

06/02/2020

Cả nước đang trải qua các đợt nắng nóng gay gắt nhất, khu vực miền Bắc nhiệt độ ngoài trời có lúc lên tới 41 – 44 độ C. Vì vậy, các bệnh thời tiết như say nắng, cảm lạnh, tiêu chảy, viêm mũi – họng, viêm phổi; các bệnh truyền nhiễm như tả, lỵ, thương hàn, tay – chân – miệng, cúm, sốt xuất, viêm não… gia tăng mạnh. Chúng ta cần lưu ý để phòng ngừa các bệnh này. Viêm tai khi đi bơi Là một bệnh nhiễm trùng ở ống tai ngoài xảy ra khi nước bị giữ lại trong tai, giúp vi khuẩn dễ phát triển. Trẻ em rất dễ bị nhiễm trùng tai ở bể bơi hoặc biển. Bệnh này khiến tai ù, ngứa và có thể đau đớn. Một số trẻ em (hoặc người lớn) cũng có thể bị mất thính giác tạm thời. Nên dùng thuốc nhỏ tai sát trùng và có thể tránh được bằng cách đeo nút tai khi cho các bé đi bơi. Say nắng Say nắng xảy ra khi chơi đùa quá lâu ở ngoài trời dẫn đến nhiệt độ cơ thể cực kỳ cao. Say nắng có thể gây ra mạch nhanh, mất phương hướng, buồn nôn, lưỡi sưng khô, da đỏ và nóng. Trong trường hợp nặng, say nắng có thể khiến người bệnh bất tỉnh. Để tránh say nắng, hãy giữ trẻ chơi trong mát trong những ngày nắng nóng và cho uống nhiều nước để tránh mất nước. Sốt phát ban Thường nổi những nốt hồng hoặc đỏ ở đầu cổ vai gây ngứa và khó chịu. Sốt phát ban thường do mặc quần áo dày khi trời nóng. Nên mặc quần áo mát mỏng để giảm nguy cơ. Bệnh thường biến mất sau một hoặc hai ngày. Viêm mũi dị ứng Bệnh thường gây ra do dị ứng với phấn hoa hoặc bụi bặm trong môi trường, làm cho màng nhầy của mắt mũi bị ngứa và viêm, gây chảy nước mũi, nhảy mũi, chảy nước mắt liên tục. Viêm mũi dị ứng có triệu chứng như cảm lạnh thông thường và là một tình trạng phổ biến thường xuất hiện vào mùa xuân và mùa hè. Nó có thể nhẹ ở một số người, nhưng cũng có thể nặng đối với một số trẻ. Nên cho trẻ đeo khẩu trang khi ra đường và tránh các yếu tố gây dị ứng. Bệnh chàm Bệnh chàm là một bệnh da phổ biến thường tái phát gây ra khó chịu trên cơ thể. Bệnh do dị ứng, thường gặp trong mùa hè. Ánh nắng mặt trời gay gắt có thể khiến da bị khô, gây kích ứng. Mồ hôi tăng nhiều cũng có thể làm bệnh nặng, ngứa nhiều hơn. Nếu trẻ bị bệnh chàm, hãy cố gắng lau sạch da khi trời nóng để giảm sự tích tụ mồ hôi. Mặc quần áo thoáng mát để da có thể thở và giảm kích ứng. Bệnh Lyme Mùa hè là mùa của loài ve, khi trẻ chơi ở những khu vực có nhiều cây sẽ làm tăng nguy cơ tiếp xúc với con ve bị nhiễm bệnh. Ban đầu, những con ve này chỉ bám trên các loài động vật như chuột và các loài gặm nhấm khác. Tuy nhiên, nếu động vật này tiếp xúc với bé, bệnh sẽ lây lan. Tránh để trẻ mặc quần áo để lộ nhiều da sẽ có nguy cơ mắc bệnh Lyme. Đôi khi những con ve này hay bám vào vật nuôi trong nhà, do đó nếu có nuôi thú cưng, hãy để ý đến chúng. Khi cho trẻ đi chơi, đi du lịch mùa hè có thể gặp các nguy cơ như ngã, rối loạn tiêu hóa, sốt virút do thời tiết thay đổi, thực phẩm lạ, các gia đình nên chuẩn bị men tiêu hóa, thuốc hạ sốt, băng cầm máu… để sử dụng trong trường hợp cần thiết. Ngộ độc thực phẩm Thức ăn trong mùa hè rất dễ bị ôi thiu. Nhiệt độ cao giúp vi khuẩn phát triển làm tăng nguy cơ ngộ độc thực phẩm. Các triệu chứng bao gồm nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng, trong một số trường hợp trẻ bị sốt cao. Bảo vệ trẻ, chống ngộ độc thực phẩm bằng cách đảm bảo thức ăn được nấu chín, giữ vệ sinh tốt trong bếp, tránh ăn ngoài đường hoặc các hàng quán kém vệ sinh. Bệnh tay chân miệng Đây là bệnh thường gặp ở trẻ em và nhũ nhi với triệu chứng như sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước làm đau ở lưỡi, nướu, lòng bàn tay và lòng bàn chân. Cách ngừa bệnh tốt nhất là chú trọng đến công tác phòng bệnh. Khuyến khích trẻ rửa tay thường xuyên, vệ sinh đồ chơi... Ong chích Ong chích có nhiều khả năng xảy ra trong mùa hè và có thể gây chấn thương cho trẻ nhỏ. Dạy con trẻ hãy bình tĩnh khi xung quanh có những con ong thì sẽ ít bị chích hơn. Chớ nên bỏ chạy hoặc vùng vẫy tay chân chỉ làm tăng cơ hội ong đốt mà thôi. Tổn thương mắt Chớ nên bỏ qua trong mùa hè. Các tia UVA và UVB từ mặt trời sẽ gây hại cho mắt vì mắt trẻ em trong suốt hơn mắt người lớn. Một chiếc mũ rộng vành sẽ tăng thêm sự bảo vệ cho đôi mắt của trẻ. Phòng khám đa khoa Biển Việt – Địa chỉ khám nhi uy tín, giá rẻ tại Hà Nội Các bác sĩ chuyên khoa nhi đều là các bác sĩ đang công tác tại khoa nhi bệnh viện Quân đội 103 có nhiều năm kinh nghiệm khám và điều trị bệnh. Địa chỉ phòng khám: Số nhà 18, Nhà vườn 1, Tổng cục 5, Bộ công an, Xã Tân Triều, Huyện Thanh Trì, TP Hà Nội. Hotline: 02435420311/ 08122175575 Theo https://phongkhambienviet.com

HIV lây truyền qua đường nào và lây ở giai đoạn nào?

06/02/2020

HIV/AIDS là căn bệnh thế kỷ hiện vẫn chưa có thuốc điều trị dứt điểm. Hầu hết các bệnh nhân mắc HIV/AIDS thường bị lây qua các con đường: máu, quan hệ tình dục và từ mẹ sang con. 1. HIV/AIDS là gì? HIV là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. Loại virus này gây tổn thương hệ thống miễn dịch, khiến cơ thể người không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh và dẫn tới tử vong. AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh: nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các căn bệnh liên quan tới rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong. Thời gian chuyển từ HIV sang AIDS tùy thuộc vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người. Theo nhiều nghiên cứu, thời gian trung bình là 5 năm. 2. HIV lây qua những con đường nào? Cho đến nay, người ta đã tìm thấy virus HIV trong tinh dịch, dịch âm đạo, máu, các sản phẩm của máu, nước mắt, nước bọt, dịch não tủy, sữa mẹ. Tuy nhiên, chỉ có 3 con đường lây nhiễm virus HIV được xác định: 2.1. HIV lây qua đường máu HIV xâm nhập vào cơ thể qua đường máu và chúng ảnh hưởng trực tiếp lên tế bào lympho T trong máu (phòng tuyến giúp cơ thể chống lại các yếu tố gây hại) và vô hiệu hóa lympho T.Virus HIV lây truyền qua đường máu do: Sử dụng các dụng cụ xuyên chích qua da không được vô khuẩn như dùng bơm kim tiêm, kim xâu tai, kim xăm mình và các dụng cụ sắc nhọn khác. Nguy cơ lây nhiễm liên quan với số lần tiêm chích và sử dụng dụng cụ tiêm chích cho nhiều người. Lây nhiễm HIV trong các cơ sở y tế qua các dụng cụ y tế không được vô trùng. Người chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS bị lây nhiễm HIV qua các vết hở rỉ nước khi tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người bệnh. Bị kim tiêm đâm phải tay, dao kéo cứa phải tay, giẫm phải kim dính máu người bệnh,... do tai nạn rủi ro nghề nghiệp (chủ yếu là nhân viên y tế). Truyền máu hoặc các chế phẩm từ máu mà không được sàng lọc HIV. 2.2. HIV lây truyền qua hoạt động tình dục không an toàn Quan hệ tình dục không an toàn có thể lây nhiễm HIV HIV lây qua những con đường nào ? Virus HIV dễ lây truyền qua đường tình dục. Người mang virus khi quan hệ tình dục sẽ lây truyền HIV cho bạn tình. Tỷ lệ lây nhiễm HIV cho mỗi lần quan hệ tình dục không bảo vệ ước tính là 0,1 – 1%. Tỷ lệ này gia tăng theo tần suất quan hệ. Trong khi đó, quan hệ tình dục với người bị HIV có bảo vệ bằng bao cao su sẽ có độ an toàn lên tới 90 – 95% nếu thực hành đúng cách. Virus HIV lây truyền qua đường tình dục do: Tình dục đường âm đạo. Tình dục đường hậu môn. Tình dục đường miệng: khả năng lây truyền bệnh thấp hơn. Tuy nhiên, nếu trong miệng có vết trầy xước hoặc chảy máu răng mà không biết thì vẫn có khả năng lây nhiễm HIV. 2.3. HIV lây truyền qua đường từ mẹ sang con HIV lây qua những con đường nào ? Người mẹ bị nhiễm virus HIV sinh con sẽ có khoảng 30% khả năng lây nhiễm. Trẻ sơ sinh bị nhiễm HIV thường không sống được quá 3 năm. Virus HIV lây truyền qua đường mẹ sang con do: Qua nhau thai khi bé nằm trong bụng mẹ. Qua máu và chất dịch của mẹ khi sinh. Qua sữa mẹ khi mẹ cho con bú. HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con 3. HIV lây ở giai đoạn nào? Các giai đoạn bệnh HIV/AIDS là: Giai đoạn sơ nhiễm (giai đoạn cửa sổ - ARS): trong vòng 1 – 2 tháng sau khi HIV xâm nhập cơ thể, có 40 – 90% bệnh nhân trải qua các triệu chứng giống bệnh cúm như sốt 38 - 40oC, vã mồ hôi, viêm họng, mỏi mệt, đau cơ khớp, sưng nhiều hạch,... Đây là thời điểm virus di chuyển vào trong máu, nhân rộng với số lượng lớn. Các triệu chứng sưng, viêm là phản ứng viêm của hệ miễn dịch. Khoảng 2 – 3 tháng sau khi sơ nhiễm cơ thể bệnh nhân sinh ra kháng thể đặc hiệu và lúc này mới xét nghiệm phát hiện dương tính HIV. Giai đoạn HIV dương tính kéo dài trong khoảng 5 – 10 năm. Giai đoạn nhiễm trùng không triệu chứng : cơ thể bệnh nhân không có triệu chứng bất thường vì chỉ có lượng nhỏ bạch cầu bị tiêu diệt. Virus HIV vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Thời gian này kéo dài trong khoảng 5 – 10 năm. Trong giai đoạn này, cơ thể dần chuyển sang giai đoạn nhiễm HIV mãn tính với biểu hiện sưng hạch. Giai đoạn có liên quan đến AIDS: cơ thể dần yếu đi, người bệnh có biểu hiện viêm amidan, viêm xoang, viêm miệng, viêm hầu họng, hay bị mẩn ngứa, phát ban, nấm móng,... Sau vài tháng đến vài năm, người bệnh có biểu hiện sút cân, sốt dai dẳng, nổi hạch, đổ mồ hôi ban đêm, tiêu chảy,... tái đi tái lại, cho thấy hệ miễn dịch đã bắt đầu suy sụp. Giai đoạn bệnh AIDS : giai đoạn cuối cùng của nhiễm HIV, có biểu hiện là các rối loạn liên quan tới suy giảm miễn dịch: nổi hạch toàn thân, sốt kéo dài trên một tháng, tiêu chảy dài, sút cân mạnh (khoảng 10% thể trọng cơ thể). Người bệnh dễ tử vong vì các nhiễm trùng cơ hội như viêm phổi, viêm màng não, viêm ruột, ung thư hạch, ung thư mạch máu,... Về nguy cơ lây truyền, virus HIV có thể lây truyền ở bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình nhiễm bệnh. 4. HIV không lây qua đường nào? HIV có lây qua nước bọt không? HIV có lây qua đường muỗi đốt không ? Câu trả lời là không. Người khỏe mạnh sẽ không bị lây nhiễm HIV nếu: Bắt tay, ôm hôn và ăn chung với người bệnh: thành phần của chất dịch trong cơ thể người như nước bọt của người mang virus HIV chỉ có một lượng virus rất nhỏ nên không đủ để phá hủy cơ thể người. Đứng gần người bệnh hắt hơi và ho, mặc chung quần áo, bơi chung bể bơi,... Bị muỗi đốt hoặc côn trùng cắn: virus HIV không sống và sinh sản trong cơ thể muỗi hay côn trùng. 5. Cách phòng tránh lây nhiễm HIV Các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV hữu hiệu là: Sống lành mạnh, chung thủy một vợ một chồng, không quan hệ tình dục bừa bãi. Trong trường hợp quan hệ tình dục với người khác cần sử dụng bao cao su đúng cách. Chỉ truyền máu và các chế phẩm máu khi thật cần thiết. Người bệnh chỉ nhận máu và các chế phẩm máu đã thực hiện xét nghiệm HIV. Nhân viên y tế cần đeo găng tay bảo vệ khi truyền máu và khi tiếp xúc với các dịch nôn, máu,... của người bệnh. Không dùng chung bơm kim tiêm, chỉ sử dụng dụng cụ đã tiệt trùng khi phẫu thuật, xăm mình, châm cứu,... Phụ nữ nhiễm HIV không nên có thai, nếu có thai thì không nên sinh con. Trong trường hợp muốn sinh con, người mẹ nên đến cơ sở y tế uy tín để được tư vấn về cách tránh lây nhiễm cho con. Không dùng chung bàn chải đánh răng, dao cạo râu,... với người bệnh.

Những cơ hội mới trong dự phòng và điều trị HIV/AIDS

06/02/2020

Hội nghị Khoa học quốc tế về HIV/AIDS lần thứ 10 (IAS 2019) vừa được tổ chức tại thành phố Mexico từ ngày 21-24/7/2019. Tại Hội nghị, nhiều báo cáo khoa học cho thấy các kết quả nghiên cứu đang mở ra những cơ hội mới trong dự phòng và điều trị HIV/AIDS.

Hotline
0912075641
Hotline
0962470011
popup

Số lượng:

Tổng tiền: